MENU

Gốc > Bài viết > KIẾN THỨC SINH HỌC > DI TRUYỀN HỌC >

Sinh sản hữu tính tự nhiên và nhân tạo

Đôi chim quyến luyến trên cành,

Không cha không mẹ ai sanh ra người!

 

Thói thường là như vậy! Có mẹ có cha, có chồng có vợ, có trai có gái mới có sự sinh sản, tạo nên con cái, hậu duệ. Không phải chỉ ở người, thú mà cả thảo mộc cũng vậy: phấn bông đực bay dính vào bầu nhị cái, nhờ vậy ''bông đậu'' sinh ra trái quả cho ta ăn, tạo nên hạt để cây sinh tồn nối giống. Trên  bình diện sinh lý, sự sinh sản tự nhiên của sinh vật thượng đẳng, trong đó có loài người, là kết quả của sự phối hợp giữa tinh trùng (Samenzelle/Spermium) của phái nam  và noãn/trứng (Ei/Ovum) của phái nữ. Sự phối hợp nầy xãy ra trong tình thương yêu hay cưỡng bức... nếu đối với đôi nam nữ là một xúc cãm khó quên, thì đối với tinh trùng và trứng chỉ là chuyện ''ngoài tai''. Điểm quan trọng trong việc phối hợp sinh lý/thụ tinh là tinh trùng phải vào được noãn, đem những di thể (Gene) của riêng nó hòa đồng vào di thể trứng tạo nên một ''trứng thụ tinh'' (Zygote). Để hoàn tất nhiệm vụ nầy tinh trùng (trung bình 200-500 triệu ở mỗi lần giao hợp xuất tinh/Ejakulation) phải chạy một đoạn đường thật dài trong âm đạo (Vagina), vượt qua tử cung (Uterus), vào ống dẫn trứng (Oviduct); và trong số chỉ khoảng 300 tinh trùng mạnh khỏe may mắn vượt qua mọi chướng ngại trên đoạn đường dài khoảng 20 cm đến được nơi đây, chỉ một chàng tinh trùng tốt số duy nhất  gặp gở hòa hợp được với trứng trưởng thành +1) (trứng nầy, khoảng 12-16 ngày trước khi các bà các cô có kinh, rớt ra khỏi buồng trứng (Eierstock/Ovar), rơi vào ống dẫn trứng và di chuyển lần xuống phía tử cung).

 

Sau lúc phối hợp ở ống dẫn trứng, nhân chứa nhiễm thể của tinh trùng sẽ vào hoà hợp với nhân của trứng, và như vậy trứng thụ tinh (Zygote=hợp tử) +2)  bắt đầu phân hóa: 2 tế bào trong ngày thứ nhất, 4 tế bào ở ngày thứ hai, 8 tế bào ngày thứ ba....và cứ như thế sự phân  bào tiếp tục không ngừng. Ở giai đoạn ''8 tế bào'' vào ngày thứ ba, những tế bào sinh ra hợp lại thành một cầu tròn có dạng như trái dâu tầm (Maulbeere) được gọi là ''Morula''. Quả cầu Morula lớn dần,  cuối cùng với khoảng 30 tế bào, và vào ngày thứ tư chất lỏng có trong ống dẫn trứng thấm xuyên vào tận trung tâm Morula, xô đẩy những tế bào nầy tạo nên một quả cầu rổng ruột được gọi là ''Blastozyste'' (=phôi nang?!), đồng thời những phân bào sinh ra cũng được sắp xếp đúng thứ tự lại, tạo ra hai lớp tế bào có tính chất/nhiệm vụ khác nhau: lớp tế bào phía trong=''Embryoblast''  về sau sẽ tạo nên phôi thai (Embryo) cũng như phần trực tiếp bao bọc che chở cho phôi thai (Amnion), trong khi lớp tế bào phía ngoài = ''Trophoblast'' sẽ là phần bám vào màng tử cung tạo nên lớp nhao (Plazenta) bao bọc và nuôi phôi thai/bào thai. Cùng với sự biến tượng không ngừng nầy, Blastozyte tiến lần xuống phía dưới ống dẫn trứng, và vào ngày thứ năm sau lúc thụ tinh, Blastozyste thật sự vào được tử cung để bám vào màng tử cung ''làm ổ'' nơi đây (Nidation).

 

Ở tử cung, từ Embryoblast, phôi thai (Embryo) thành hình và tiếp tục phân hóa, biến tượng: ngày thứ 22 tim bắt đầu đập,  ngày 30 phát hiện chân tay, ngày 35 cơ quan thị giác/mắt và cứ thế đến tuần thứ 10 mọi cơ quan được tạo lập đầy đủ, chấm dứt giai đoạn phôi thai (Embryonalperiode). Kể từ tháng 3 phôi thai (Embryo) thật sự là ''người'', là bào thai (Fetus)  chỉ cần tăng trưởng, lớn lên (Fetalperiode) để cuối cùng, sau chín tháng mười ngày, đứa bé rời bụng mẹ và trên quả địa cầu có thêm một nhân vật mới.

 

Thụ tinh nhân tạo

 

Như đã nói, dưới khía cạnh sinh lý, điểm chánh yếu trong sự sinh sản là sự phối hợp tinh trùng và trứng. Sự phối hợp nầy được xãy ra trên ''nệm ấm chăn êm'' hay trong ''ống  nghiệm'' không quan trọng. Chính vì vậy, sự sinh sản vẫn thành tựu được khi ngưới ta lấy tinh trùng cũng như trứng ra khỏi cơ quan sinh dục, khỏi cơ thể để khán nghiệm,  lựa chọn, tồn trử, thụ tinh .... và sau đó cho vào cơ thể trở lại. Sự kiện nầy là nguyên tắc căn bản cho sự thụ tinh nhân tạo.

 

Trong vấn đề  ''thụ tinh nhân tạo'' (künstliche Befruchtung/artificial fertilization), bước đi đầu tiên đáng nói là việc ''kết tinh/giao hợp nhân tạo = künstliche Besamung/artificial insemination''. Trên bình diện sinh lý và thành quả, sự kết tinh/giao hợp nhân tạo không khác gì sự giao hợp tự nhiên. Điểm khác chỉ là trong trường hợp nầy ngưòi đàn ông/thú đực không gần gủi ''thân kề thân''gì được với người, với giống khác phái. Tinh trùng của phái nam/thú đực được lấy ra khỏi cơ quan sinh dục, được tồn trử bảo quản và khi cần cho vào cơ quan sinh dục cái qua ống tiêm/ống dẫn. Phương pháp giao hợp nhân tạo nầy được dùng nhiều trong lãnh vực chăn nuôi, nếu không muốn nói đây là phương pháp phổ biến nhất trong việc sinh sản thú hiện tại. Ở loài người chúng ta, phương pháp nầy vẫn được dùng, chẳng hạn khi lượng tinh trùng mỗi lần xuất tinh của người đàn ông quá ít (dưới 200 triệu); trong trường hợp nầy sau khi tổng hợp tinh trùng của nhiều lần xuất tinh, người ta đạt được độ đậm đặc tinh trùng nhiều hơn để khi cho vào cơ quan sinh dục của người đàn bà, bảo đảm được số lượng tinh trùng lanh lẹ mạnh khỏe, cần thiết cho sự thụ tinh trong ống dẫn trứng (khoảng 300). Đối với phái nữ,  qua phương pháp kết tinh/giao hợp nhân tạo, các bà độc thân, nhưng muốn có con, và có con với tinh trùng của ''thiên tài cở ...Einstein'', vẫn có thể thành tựu (nếu có người sẳn sàng ''tặng'' tinh trùng vào ống nghiệm).

 

Bước tiến xa hơn việc ''kết tinh/giao hợp nhân tạo'' vừa kể  là sự ''thụ tinh nhân tạo = künstliche Befruchtung/artificial fertilization''. Trong trường hợp nầy tinh trùng và trứng được lấy ra khỏi cơ quan sinh dục, ra ngoài cơ thể. Sau đó người ta phối hợp tinh trùng và trứng trong ống nghiệm (In-vitro-Fertilisation= IVF) +3), và để ''trứng thụ tinh'' phân hóa tăng trưởng đến giai đoạn Blastocyste (phôi nang). Xong, trứng phân hóa nầy -vào ngày thứ hai hoặc ba sau khi thụ tinh- được đưa vào ống dẫn trứng (Embryotransfer) để tiếp đó lần xuống bám vào tử cung  của người đàn bà (người vợ/mẹ thật hay ''người mang thai mướn''=Leihmutter/surrogate mother) và bào thai thành hình, tăng trưởng tiếp như theo quá trình tự nhiên.

 

Cháu bé đầu tiên được sinh ra qua sự ''thụ tinh trong ống nghiệm ---> Retortenbaby'' là Louise Joy Brown , chào đời ngày 25 tháng 7 năm 1978. Hiện tại phương pháp nầy đã trở thành chuyện thường và cũng đã giúp rất nhiều đôi nam nữ bị khó khăn trong vấn đề sinh dục có con cái nối dỏi tông đường (trên thế giới có khoảng trên 300 000 ''con sinh qua ống nghiệm'' được ghi nhận). Hiện tại, đặc biệt ở Đức, những điểm  được tranh luận, bàn cải trong việc ''thụ tinh nhân tạo/sinh con qua ống nghiệm'' không hẳn là vấn đề kỹ thuật mà là những vấn đề liên hệ đến luân lý/đạo đức, tôn giáo, xã hội, pháp lý:

 

         tình gia đình/mẹ con qua sự ''mang nặng đẻ đau'' có bị thay đổi, mất mát gì không cho cha mẹ ''mướn người mang thai'' không có công sinh đẻ?  Việc ''mướn người sanh đẻ'' có thể bị lạm dụng, gây bất lợi/tổn thương cho người được mướn (vì cần tài chánh không màng nguy hiểm trong việc sinh sản) cũng như cho người mướn (khi người mang thai không chịu giao con) ?

 

*           Vì được thụ tinh ngoài cơ thể/trong ống nghiệm, trứng thụ tinh/phôi thai có thể được khám nghiệm toàn bộ yếu tố di truyền dể dàng để xem có hoàn hảo, mang bịnh di truyền, là trai hay gái, v.v....trước khi đem cấy vào tử cung. Sự ''khán nghiệm/chẩn bịnh trước khi cấy'', quen thuộc qua chữ tắt ''PID = Präimplantation-Diagnostik'' +4) , là vấn đề hiện đang được bàn cải sôi nổi:

         * qua PID con người được tuyển chọn theo ý muốn trái với sự ngẫu nhiên/không biết trước  trong việc sinh sản tự nhiên và như vậy có vi phạm đến những nguyên tắc nhân quyền/nhân vị không?

         * PID có thể bị lạm dụng để tạo con người/sinh vật theo mục đích riêng tư, ích kỹ, vụ lợi ---> tạo giống người mới/Menschenzucht) ?

         * làm gì với những trứng được thụ tinh, biến tượng thành phôi thai, nhưng mang bịnh, không ''hoàn hảo'' theo ý muốn. Sự hủy hoại những trứng thụ tinh nầy có nên bị lên án  là hành động ''sát nhân'' không?

 

Sự chẩn bịnh PID hiện được cho phép ở Hoa-Kỳ, Úc và khoảng 10 quốc gia ở Âu châu. Riêng ở Đức, theo Đạo luật BảoVệ Phôi Thai (Emryonenschutzgesetz), phương pháp nầy bị cấm dùng, ngoại trừ để định trai-gái và những bịnh di truyền liên hệ đến phái nam-nữ.

 

*           Trứng thụ tinh phân bào trong ống nghiệm, do đó người ta có thể theo dỏi mọi thời kỳ biến tượng. Một điểm sinh lý thật quan trọng cần biết là những tế bào phân hoá đầu tiên (giai đoạn phân chia 3-4 đến 8 tế bào) có tính ''toàn năng/toàn lực'' (totipotent) để tạo ra mọi cơ quan, tạo ra phôi thai mới (y như trứng được phối hợp từ tinh trùng và trứng thông thường). Câu hỏi đặt ra là người ta có nên, có được phép dùng những ''tế bào phôi thai nguyên thủy = embryonale Stammzelle/ embryonic cell'' nầy để tái tạo con người,  hoặc thực tế hơn, lèo lái/hướng dẫn sự phân hóa tế bào nguyên thủy để tạo ra những mô/cơ quan (da, thần kinh, tim, thận,...) dùng trong việc trị bịnh nhất là trong lãnh vực ghép nối cơ quan (Transplantation) .

 

Việc khảo cứu tế bào phôi thai nguyên thủy (=Stammzellenforschung) là đề tài rất sôi động hiện tại và ở Đức đang bị công kích mạnh, nhất là từ phía tôn giáo.

Theo khoahoc.net

Về đầu trang


Nhắn tin cho tác giả
Bùi Đình Đường @ 21:05 17/04/2009
Số lượt xem: 887
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến