MENU

Gốc > Bài viết > KIẾN THỨC SINH HỌC > DI TRUYỀN HỌC >

Sao chép DNA trong tế bào

1. Sao chép ở nhiễm sắc thể Prokaryote

Để theo dõi sao chép DNA đồng vị   phóng xạ Thymidin (tiền chất đặc hiệu cho DNA) được sử dụng. Quá trình sao chép xuất phát từ một đim ori (điểm xuất phát sao chép) và triển khai ra cả 2 phía. Khi DNA vòng tròn đang sao chép, quan sát thy dạng DNA hình con mt. Chẻ ba sao chép lan dần cuối cùng tạo ra 2 phân tử DNA lai: một mch có mang dấu phóng xạ

(thymidin-H3). Có trường hợp sao chép chỉ xảy ra về một phía.

E.coli chỉ có một điểm xuất phát sao chép ori nên cả phân tử DNA thành một đơn vị sao chép thống nhất được gọi là replicon. Bộ gen của sinh vật tiền nhân thường chỉ có một replicon.

1_500_34

2. Sao chép nhiễm sắc thể ở tế bào eukaryote

Tế bào nhân thực có số lượng DNA lớn hơn nhiều so với tế bào tiền nhân, tạo nên nhiều nhim sắc thể mà mỗi cái gồm một sợi DNA thẳng kết hợp với protein. Do đó sao chép DNA của tế bào nhân thực phức tạp hơn và tốc độ chậm hơn (khoảng 50 nucleotid/giây).

 1_500_35

 

 

Điểm khác căn bản là DNA của tế bào nhân thực có nhiều replicon

Ví dụ: Saccharomyces cerevisiae có tới 500 replicon, tức có 500 đim xuất phát sao chép. Quá trình sao chép cũng bắt đầu từ ori rồi lan về 2 phía. Tế bào có cơ chế kim soát nghiêm ngặt quá trình sao chép, đim ori nào đã sao chép qua một lần rồi thì không lặp lại trước khi toàn bộ DNA được sao chép hoàn toàn.

 các eukaryote có 5 loại DNA polymerase được ký hiệu là pol a, pol b, pol g, pol d, pol e. Các loại DNA polymerase này không đồng nhất về phân tử lượng  và mt  số  đặc tính  hóa học. Pol  g phân  bố  trong ty thể  và tham gia tái bản DNA ở ty thể, các DNA polymerase còn lại ở trong nhân. Trong nhân, DNA polymerase d DNA polymerase e là 2 enzyme chính tham gia tổng hợp trên sợi khuôn dẫn đầu và sợi chm. Pol b và tiểu đơn vị bé của pol d có hoạt tính đọc sửa.

 

TOP

 


Nhắn tin cho tác giả
Bùi Đình Đường @ 22:08 28/05/2009
Số lượt xem: 6120
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến